11 - Ưu Lão

十一。憂老


花 落 如 今 經 幾 霜
庭 蘭 兮 已 摘
江 藻 兮 又 芳
攝 衣 步 前 堂
仰 目 觀 天 章
纖 雲 時 彷 彿
北 斗 忽 低 昂
河 水 翻 明 滅
參 躔 乍 現 藏
月 照 兮 我 床
風 吹 兮 我 牆
玉 顏 隨 年 削
丈 夫 猶 他 方
昔 為 形 與 影
今 為 參 與 商
君 邊 雲 擁 青 絲 騎
妾 處 苔 生 嚮 屧 廊
廊 內 春 風 日 將 歇
可 憐 誤 盡 良 時 節
良 時 節 姚 黃 魏 紫 嫁 東 風
良 時 節 織 女 牛 郎 會 明 月
昨 日 未 笄 西 家 娘
今 年 已 歸 東 鄰 倩
可 怜 兔 守 一 空 房
年 年 誤 盡 良 時 節
良 時 節 兮 忽 如 梭
人 世 青 春 容 易 過
況 復 是 春 悶 未 消 秋 恨 續
況 復 是 合 歡 更 少 別 愁 多
別 愁 秋 恨 兩 相 磨
蒲 柳 青 青 能 幾 何
空 漢 惜 淚 咨 嗟
只 怕 白 到 文君 頭 空 嘆 惜
只 恐 花 到 潘 郎 鬢 浪咨 嗟
嘆 惜 何 以 為
顏 色 猶 紅 如 嫩 花
咨 嗟 何 以 為
光 陰 一 擲 無 回 戈
咨 命 薄 惜 年 花
紛 紛 少 婦 幾 成 皤
香 閣 重 懷 陪 笑 臉
花 樓 尚 記 解 香 羅
恨 天 不 與 人 方 便
底 事 到 今 成 坎 坷
坎 坷 坎 坷 知 奈 何
為 妾 嗟 兮 為 君 嗟

11. ƯU LÃO 

Hoa lạc như kim kinh kỷ sương
Đình lan hề dĩ trích
Giang tảo hề hựu phương
Nhiếp y bộ tiền đường
Ngưỡng mục quan thiên chương
Tiêm vân thời phảng phất
Bắc đẩu hốt đê ngang
Hà thuỷ phiên minh diệt
Sâm triền sạ hiện tàng
Nguyệt chiếu hề ngã sàng
Phong xuy hề ngã tường
Ngọc nhan tuỳ niên tước
Trượng phu do tha phương
Tích vi hình dữ ảnh
Kim vi Sâm dữ Thương
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
Thiếp xứ đài sinh Hưởng điệp lang
Lang nội xuân phong nhật tương yết
Khả liên ngộ tận lương thời tiết
Lương thời tiết Diêu hoàng Nguỵ tử giá Ðông phong
Lương thời tiết Chức nữ Ngưu lang hội minh nguyệt
Tạc nhật vị kê Tây gia nương
Kim niên dĩ quy Ðông lân thiến
Khả linh thố thủ nhất không phòng
Niên niên ngộ tận lương thời tiết
Lương thời tiết hề hốt như thoa
Nhân thế thanh xuân dung dị qua
Huống phục thị xuân muộn vị tiêu thu hận tục
Huống phục thị hợp hoan cánh thiểu biệt sầu đa
Biệt sầu thu hận lưỡng tương ma
Bồ liễu thanh thanh năng kỷ hà
Không thán tích lệ tư ta
Chỉ phạ bạch đáo Văn Quân đầu không thán tích
Chỉ khủng hoa đáo Phan lang mấn lãng tư ta
Thán tích hà dĩ vi
Nhan sắc do hồng như nộn hoa
Tư ta hà dĩ vi
Quang âm nhất trịch vô hồi qua
Tư mệnh bạc tích niên hoa
Phân phân thiếu phụ kỷ thành bà
Hương các trùng hoài bồi tiếu kiểm
Hoa lâu thượng ký giải hương la
Hận thiên bất dữ nhân phương tiện
Để sự đáo kim thành khảm kha
Khảm kha khảm kha tri nại hà
Vị thiếp ta hề vị quân ta


Đặng Trần Côn

Diễn Nôm Đoàn Thị Điểm
Chồi lan nọ trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẩn thờ.

Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê Triền buổi có buổi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.

Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô.
Lạnh lùng thay bấy chiều thu,
Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi.

Một năm một nhạt mùi son phấn,
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi.
Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.

Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in.
Gió Xuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.

Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau.
Nọ thì ả Chức chàng Ngâu,
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.

Thương một kẻ phòng không luống giữ,
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau.
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh.

Xuân thu để giận quanh ở dạ,
Hợp ly đành buồn quá khi vui.
Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.

Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan Lang,
Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng.

Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa,
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng.

Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt,
Lầu hoa kia phảng phất hơi hương.
Trách trời sao để lỡ làng,
Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.