13 - Khẩn Cầu

十三。懇求


何 幸 期 門 鋒 刃 中
老 天 著 意 護 英 雄
護 英 雄 百 戰 功
長 驅 駟 馬 靜 關 東
關 東 關 北 休 傳 箭
山 尾 山 頭 早 掛 弓
捷 色 旌 旗 辭 塞 月
凱 歌 將 士 背 邊 風
勒 詩 兮 燕 然 石 獻 馘
兮 未 央 宮
未 央 宮 兮 向 天 朝
挽 銀 河 兮 洗 刀 弓
詞 人 刪 下 平 淮 頌
樂 府 歌 傳 入 漢 謠
凌 煙 閣 兮 秦 叔 寶
麒 麟 台 兮 霍 嫖 姚
天 長 地 久 茅 苴 券
子 蔭 妻 封 爵 祿 標
有 愁 兮 此 日
得 意 兮 來 時
妾 非 蘇 家 癡 心 婦
君 亦 洛 陽 好 男 兒
歸 來 倘 佩 黃 金 印
肯 學 當 年 不 下 機
願 為 君 兮 解 征 衣
願 為 君 兮 捧 霞 巵
為 君 梳 櫛 雲 鬟 髻
為 君 粧 點 玉 臙 脂
取 君 看 兮 舊 淚 帕
訴 君 聽 兮 舊 情 詞
舊 情 詞 兮 換 新 聯
語 新 話 舊 兮 酒 杯 前
淺 斟 兮 慢 慢
底 唱 兮 連 連
斟 不 斟 兮 蒲 城 釀
唱 不 唱 兮 紫 騮 篇
願 斟 九 醞 兮 唱 雙 聯
與 君 整 頓 兮 舊 姻 緣
交 頸 成 雙 到 老 天
償 了 功 名 離 別 債
相 憐 相 守 太 平 年
太 平 年 願 君 止 戈 置
若 然 此 別 妾 何 淚
將 會 之 期 將 寄 言
嗟 乎 丈 夫 當 如 是

13. KHẨN CẦU 

Hà hạnh Kỳ môn phong nhẫn trung
Lão thiên trước ý hộ anh hùng
Hộ anh hùng bách chiến công
Trường khu tứ mã tịnh quan Ðông
Quan Đông Quan Bắc hưu truyền tiễn,
Sơn vĩ sơn đầu tảo quải cung
Tiệp sắc tinh kỳ từ tái nguyệt
Khải ca tướng sĩ bối biên phong
Lặc thi hề Yên Nhiên thạch
Hiến quắc hề Vị Ương cung
Vị Ương cung hề hướng thiên triều
Vãn Ngân hà hề tẩy đao cung
Từ nhân san hạ Bình Hoài Tụng
Nhạc phủ ca truyền nhập Hán dao
Lăng Yên các hề Tần Thúc Bửu
Kỳ Lân đài hề Hoắc Phiêu Diêu
Thiên trường địa cửu mao thư khoán
Tử ấm thê phong tước lộc tiêu
Hữu sầu hề thử nhật
Đắc ý hề lai thời
Thiếp phi Tô gia si tâm phụ
Quân diệc Lạc dương hảo nam nhi
Quy lai thảng bội hoàng kim ấn
Khẳng học đương niên bất há ky
Nguyện vi quân hề giải chinh y
Nguyện vi quân hề bổng hà chi
Vi quân sơ trất vân hoàn kế
Vi quân trang điểm ngọc yên chi
Thủ quân khan hề cựu lệ phạ
Tố quân thính hề cựu tình từ
Cựu tình từ hề hoán tân liên
Ngữ tân thoại cựu hề tửu bôi tiền
Thiển châm hề mạn mạn
Đê xướng hề liên liên
Châm bất châm hề Bồ thành nhưỡng
Xướng bất xướng hề Tử lưu thiên
Nguyện châm cửu uấn hề xướng song liên
Dữ quân chỉnh đốn hề cựu nhân duyên
Giao kỉnh thành song đáo lão thiên
Thường liễu công danh ly biệt trái
Tương liên tương thủ thái bình niên
Thái bình niên nguyện quân chỉ qua trí
Nhược nhiên thử biệt thiếp hà lệ
Tương hội chi kỳ tương ký ngôn
Ta hồ trượng phu đương như thị


Đặng Trần Côn

Diễn Nôm Đoàn Thị Điểm

Mũi đòng vác đòi lần hăm hở,
Đã lòng trời gìn giữ người trung.
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải Bắc, treo cung non Đoài.

Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh.
Đỉnh non khắc đá đề danh,
Triều thiên vào trước cung đình dâng công.

Nước duềnh Hán việc đòng rửa sạch,
Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen.
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.

Nền huân tướng đai cân rạng vẻ,
Chữ đồng hưu bia để nghìn đông.
Ơn trên tử ấm thê phong,
Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ,
Chàng hẳn không kém lũ Lạc Dương.
Khi về chẳng quả ấn vàng,
Trên khung cửi dám dẫy duồng làm cao.

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng giũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chuốc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.

Giở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu.
Câu vui đổi với câu sầu,
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca dần ren rén đòi liên.
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.

Cho bõ lúc xa sầu, cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
Ngâm nga mong gửi chữ tình,
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu !