Bồi Chế Đài Tịnh Phiên Niết Nhị Viện Đăng Thành Trung Tây Ngung Khán Sơn Tân Đình Án Tác

陪制臺並藩臬二院登城中西隅春山新亭宴作 

孤山卓出古城西,
看盡關河四面低。
龍肚千年餘氣色,
新亭一簇自雲霓。
四郊會見風塵靜,
重九無為戰伐凄。
此日登臨容易得,
千秋韻事即堪題。

BỒI CHẾ ĐÀI TỊNH PHIÊN NIẾT NHỊ VIỆN ĐĂNG THÀNH TRUNG TÂY NGUNG KHÁN SƠN TÂN ĐÌNH ÁN TÁC

Cô sơn trác xuất cô thành tê (tây),
Khán tận quan hà tứ diện đê.
Long Đỗ thiên nhiên dư khí sắc,
Tân Đình nhất thốc tự vân nghê.
Tứ giao hội kiến phong trần tĩnh,
Trùng cửu vô vi chiến phạt thế.
Thử nhật đăng lâm dung dị đắc,
Thiên thu vận sự tức kham đề.


Nguyễn Văn Siêu

Dịch nghĩa


Một ngọn núi cao hiện lên ở phía tây thành cổ,
Nhìn suốt về nơi cửa ải và sông, bốn mặt đều thấp.
Nơi thờ thần Long Đỗ nghìn năm còn đầy khí sắc,
Một quần thể Tân Đình nổi lên trên nền mây mống.
Bốn phía ngoại thành gặp nhau thành nơi yên ổn ở vùng gió bụi,
Nơi chín bậc bệ rồng có giáo hóa, không cần đánh dẹp mà yên.
Đến ngày ấy lên cao mà nhìn xuống quả dễ dàng làm được,
Ngàn năm việc vận dụng vẫn làm thơ ắt được liền.