Kê Minh

雞 鳴  


Hán văn:

雞 既 鳴 矣

朝 既 盈 矣

匪 雞 則 鳴
蒼 蠅 之 聲

賦 也

Phiên âm:

Kê ký minh hĩ.
Triều ký doanh hĩ.
Phỉ kê tắc minh,
Thương nhăng chi thanh.
(Phú dã) 


Dịch nghĩa

Gà đã gáy rồi,
Triều thần đã đầy đủ rồi.
Nhưng sự thật chẳng phải gà gáy,
Mà là tiếng của ruồi xanh bay vo vo.

Dịch thơ Nguyễn Văn Thọ


Tiếng gà đã giục canh tàn,
Triều đình đã đủ bá quan trong ngoài.
Nhưng không, gà chửa gáy mai,
Đó là tiếng cánh của loài ruồi xanh.


Dịch thơ Tạ Quang Phát


Đã vọng sang tiếng gà gáy vội,
Quần thần đều tụ hội đầy trào.
Thật thì gà có gáy đâu,
Tiếng ruồi xanh đã thi nhau bay cùng.



Hán văn:

東 方 鳴 矣
朝 既 昌 矣
匪 東 方 則 明
月 出 之 光
賦 也

Phiên âm:

Đông phương minh hĩ.
Triều ký xương hĩ.
Phỉ đông phương tắc minh,
Nguyệt xuất chi quang.
(Phú dã) 

Dịch nghĩa

Phương đông đã sáng rồi (mặt trời sắp mọc).
Triều đình đã nhiều đông quần thần rồi.
Nhưng sự thật thì chẳng phải phương đông sáng,
Mà là ánh sáng của mặt trăng lên.


Dịch thơ Nguyễn Văn Thọ

Phương đông đã hửng bình minh,
Bá quan đã chật triều đình còn chi.
Nhưng không, trời chửa sáng gì,
Quang huy ấy chính quang huy ả Hằng.


Dịch thơ Tạ Quang Phát


Kìa phương đông chân trời sáng rực.
Quần thần đang túc trực đầy trào.
Trời đông chưa sáng tỏ đâu,
Ánh trăng vừa mọc chiếu vào đó thôi.



Hán văn:

蟲 飛 薨 薨
甘 與 子 同 夢
會 且 歸 矣
無 庶 予 子 憎
賦 也

Phiên âm:

Trùng phi hoăng hoăng,
Cam dữ tử đồng mộng;
Hội thư quy hĩ,
Vô thứ dư tử tăng.
(Phú dã) 

Dịch nghĩa

Côn trùng bay vo vo,
Thần thiếp rất vui sướng được yên giấc mộng với vua.
Nhưng quần thần đã hội tự ở triều đình rồi, nếu chờ mà không thấy vua ra sẽ giải tán trở về.
Xin chớ vì thần thiếp mà vua bị ghét lây.


Dịch thơ Nguyễn Văn Thọ

Côn trùng bay lượn rộn ràng,
Ước gì đầy giấc mộng vàng bên ai.
Chỉn e văn võ trở hài,
Sinh lòng oán hận cả hai chúng mình.


Dịch thơ Tạ Quang Phát

Tiếng vo vo côn trùng khuấy động,
Thiếp sướng vui yên mộng cùng vua.
Quần thần chầu tự bao giờ,
Chớ vì thiếp để họ chờ ngoài kia.